Cảm xúc Tây Giang

Tổ quản lý điện Tây Giang (Quảng Nam) có 4 công nhân quản lý hơn 70 km đường dây trung, hạ áp và 33 trạm biến áp, phần lớn qua đồi núi. Dòng điện đến với người dân phải qua 5 cấp điện áp, tần suất sự cố lớn, vì thế các công nhân điện phải rất khó nhọc mới giữ vững dòng điện ổn định cho đồng bào miền biên viễn này.

Sự đổi thay dịu kỳ

Chiều muộn giữa đại ngàn Trường Sơn, đoạn qua ngã ba A Chin huyện Tây Giang, tôi như bị hút hồn bởi vẻ đẹp của núi rừng hoang sơ, huyền bí, hấp dẫn đến lạ kỳ. Phía xa là khu trung tâm hành chính huyện nằm lọt thỏm giữa bốn bề núi non hiểm trở, bên dòng sông Lăng cuồn cuộn chảy. Thị trấn bắt đầu lên đèn. Từng hàng đèn đường thẳng tắp, sáng trưng xen lẫn với ánh đèn từ nhà dân và các cơ quan gần đấy trông giống như một góc phố dưới xuôi. Xa hơn nữa, ẩn hiện trên nền trời là những hàng trụ điện vươn cao, dây căng thẳng tắp nhấp nhô giữa mây trời khiến tôi thầm thán phục những người thợ điện đã đổ không biết bao nhiêu mồ hôi, công sức để đưa hàng nghìn cây trụ, hàng vạn bao xi-măng nặng trĩu lên đồi cao, để rồi chắt chiu từng chữ điện cho bà con thay đổi cuộc sống, xích lại gần hơn với đồng bào miền xuôi.

Nhìn thật kỹ, giữa ráng nắng chiều còn sót lại trên đỉnh núi tôi mới thấy có nhiều đường dây ngang dọc, vượt núi băng ngàn. Anh Trương Tiến Dũng, Giám đốc Điện lực Đông Giang giải thích, mỗi đường dây mang điện có chức năng riêng biệt. Đường dây đi men theo các triền đồi, thấp hơn, nhỏ hơn mang điện lưới quốc gia từ dưới xuôi lên, rồi tỏa ra thành nhiều đường dây mang hình xương cá đưa điện về các thôn, nóc thắp sáng cho đồng bào ở tận nơi thâm sơn cùng cốc này. Còn những hàng trụ được lắp ghép bằng sắt xuyên qua đồi cao, vực sâu là đường dây đưa điện sản xuất từ các nhà máy thủy điện hòa nhập vào lưới điện quốc gia.

Đứng trước khung cảnh thanh bình của dãy Trường sơn huyền thoại hùng vĩ, giữa những người dân hiền lành, chịu thương chịu khó khiến tôi chợt nhớ lại những câu chuyện ly kì, rùng rợn mà hồi còn nhỏ, bên bếp lửa hồng mẹ tôi kể cho nghe về miền rừng thiêng nước độc này.

Chuyện về những người “cà răng, căng tai” đóng khố quanh năm; về những người cách mạng thoắt ẩn, thoắt hiện, “đi mây về gió” khiến kẻ thù kinh hồn, bạt vía. Chuyện về những người từ dưới xuôi lên “ngậm ngãi tìm trầm” để rồi bỏ xác lại nơi núi rừng sâu thẳm hay chuyện về người dân tộc biết phép thư yểm; về những cái chết dữ, thương tâm do té cây, hổ vồ, sẩy chân rơi xuống vực sâu hoặc bị ma quỷ ám hại… Đến bây giờ nhớ lại những câu chuyện ấy tôi còn thấy rùng mình, dù trước mặt tôi hiện hữu những con người hiền lành, chất phát, chẳng có gì là đáng sợ.

20120905_taygiang_1

Lưới điện miền núi Tây Giang

Ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiều người dưới xuôi tìm đường lên đây lập nghiệp. Cô Nguyễn Thị Chi, quê ở Tam Đàn (Phú Ninh), nhà nghèo quá nên phải dắt cả 4 đứa em lên tìm kế sinh nhai tại ngã ba A Dích, để rồi sau 30 năm quay lại thành phố mua nhà, tậu đất. Ôn lại thời quá vãng, cô Chi không khỏi chạnh lòng: "Ngày ấy nơi đây là chốn hoang vu, không điện, không đường, bệnh xá trường học chỉ bằng tranh tre nứa, trông thê lương, nhếch nhác lắm! Nhiều người không kiếm nổi cái ăn, bị sốt rét hành hạ nên phải dựa vào sự đùm bọc khoai sắn của đồng bào Cơ Tu. Ông bà mình nói “ăn của rừng rưng rưng nước mắt” quả thật không sai!”.

Những khó khăn, khổ cực như câu chuyện kể ngày xưa rồi cũng qua đi, đói nghèo rồi cũng bị đẩy lùi. Cả Tây Giang và Đông Giang ngày nay đã trở thành những điểm du lịch hấp dẫn, bởi khí hậu nơi đây mát mẻ, trong lành, núi rừng còn mang nét hoang sơ, tinh túy, dân cư sống hồn nhiên, hiền hòa mến khách. Đi từ ngã ba A Dích đến A Dốc, A Chin, Tà Vàng rồi đến A Grồng, chiều đến có thể nghe âm thanh của núi rừng. Tiếng gió hú lùa khe núi, tiếng suối róc rách, tiếng chim kêu, vượn hót cùng với hương thơm ngào ngạt của hoa rừng khiến lòng người xao động.

Nỗ lực cấp điện xóa đói, giảm nghèo

Ông Bríu Liếc, Bí thư huyện ủy Tây Giang phấn khởi nói: “Cuộc sống vật chất và đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào trở nên khởi sắc hơn kể từ ngày có đường Hồ Chí Minh và nhất là từ hồi có điện lưới quốc gia vượt cả trăm cây số từ đồng bằng lên đến nơi đây”.

Ông cho biết, hồi ấy vì “khát điện” nên UBND huyện Hiên phải bằng mọi cách xây dựng thủy điện Ca-đắp. Dù công suất nhà máy nhỏ lẻ, song bước đầu cũng giải quyết được nhu cầu điện thiết yếu cho trung tâm hành chính huyện. Về sau, khi điện quốc gia hòa mạng, một đường dây 22 kV dài hơn 80 km kéo từ TP. Đà Nẵng lên cấp điện cho xã Ba và xã Tư. Đến thời điểm tách huyện năm 2003, trong số 21 xã của huyện Hiên chỉ có 7 xã ở Đông Giang có điện, phía Tây Giang hoàn toàn “trắng điện”.

Còn nhớ, hồi tháng 10/2002, ông Nguyễn Quang Vinh, Giám đốc Công ty Điện lực Quảng Nam đã dẫn đầu đoàn công tác đến A Tiêng khảo sát, bàn biện pháp cấp điện cho địa phương. Vào thời ấy, công ty được Tỉnh ủy Quảng Nam giao nhiệm vụ kết nghĩa với xã A Vương. Để tạo điểm nhấn cho tình cảm kết nghĩa, đồng thời cũng là sự chuẩn bị “đón đầu” cấp điện cho huyện mới, đầu năm 2003, Tổng công ty Điện lực miền Trung đầu tư hơn 3,8 tỷ đồng, giao cho công ty làm chủ đầu tư xây dựng 12 km đường dây trung áp kéo từ Prao lên A Vương. Ngặt một nổi, người dân quá nghèo không thể tự đưa điện về nhà, vậy là CBCNV công ty góp thêm hơn 60 triệu đồng mua dây, cầu dao, bóng điện, rồi tự tay mắc điện cho hơn 200 hộ dân. Cũng trong năm đó, từ điểm đấu nối tại A Vương, Tổng công ty đưa điện về Bha-Lêê, rồi kéo thêm 20 km lưới điện trung áp qua đồi núi, cấp điện cho 3 xã lân cận trung tâm hành chính huyện.

20120905_taygiang_2

Một góc phố ở trung tâm huyện lỵ Tây Giang

Dù đã rất nỗ lực, song lưới điện ở Tây Giang vẫn rất khó được phủ đầy, bởi khu 7 gồm các xã biên giới Ga Ry, Ch'Ơm, A Xan, Tr'Hy, A Nông cách điểm đấu nối hơn 70 km đường rừng. Hơn nữa nơi đây mật độ dân cư thấp, phân tán nên suất đầu tư cấp điện trên 120 triệu đồng/hộ, rất khó tìm ra dự án thương mại nào chấp nhận đầu tư.

“Thế nhưng - ông Briu Liếc nói - không thể ngồi yên để nhìn người dân khốn khó mãi vì không có điện, nên huyện phải chạy vạy đủ mọi cách”. Rồi ông phấn khởi cho biết, đầu năm 2012, xã A Xan và Ga Ry có điện từ thủy điện nhỏ thuộc Chương trình năng lượng nông thôn Việt Nam-Thụy Điển, còn xã A Nông có điện lưới quốc gia. Trước đó, xã Dang được Nhà máy thủy điện A Vương đầu tư cấp điện tái định cư. Như vậy, từ 10/10 xã trắng điện, đến nay Tây Giang đã có 8 xã, 2700 hộ có điện, đạt tỷ lệ 71,2% số hộ của huyện, một kết quả không nhỏ đối với huyện miền núi mới ra đời.

Lâu dài bài toán điện

Sắp đến, huyện tiếp tục triển khai đầu tư cấp điện thôn Pơning xã Lăng; mở rộng cấp điện khu dân cư AGrồng, thôn Z’rượt xã A Tiêng; cấp điện khu Bh’đuh và thôn K’xeng xã Dang, là khu vực sẽ di dời tái định cư mới cho người dân thôn A Lua, K’la.

Ông Trương Tiến Dũng cho biết, những năm tới, ngoài việc đầu tư nâng cấp, sửa chữa lưới điện theo kế hoạch thường niên hơn 1 tỷ đồng/năm, Công ty Điện lực Quảng Nam cũng đã khảo sát lập đề án trình Tổng công ty và UBND tỉnh xem xét đầu tư xây mới, nâng cấp, cải tạo hơn 88 km đường dây trung áp, 30 km đường dây hạ áp, lắp đặt thêm 22 trạm biến áp, với tổng vốn đầu tư khoảng 80 tỷ đồng. Hiện vẫn đang chờ địa phương và ngành điện tìm dự án đầu tư cho kế hoạch này.

Việc xây dựng các công trình cấp điện cho dân ở miền núi biên giới Tây Giang là sự kiện chính trị xã hội quan trọng trong suốt nhiều năm qua, bởi dòng điện đã góp phần tích cực vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất và hỗ trợ người dân ổn định cuộc sống lâu dài. Ai cũng thấy, cứ mỗi ki-lô-mét đường dây điện dài thêm ra, mỗi trạm biến áp được lắp đặt thì niềm vui của người dân thêm lớn. Riêng tôi, tôi nhớ mãi cái ngày đóng điện tại xã A Nông đầu năm nay. Từ sáng sớm hàng chục người dân bỏ công ăn việc làm để đến trạm biến áp xem cái điện nó thế nào! Bà Alăng Thị Hai (thôn Anoonh) không dấu niềm vui trên khuôn mặt già nua, khắc khổ: “Bây giờ đường sá, cầu cống đã làm đến tận thôn, điện đã đến tận hộ rồi. Nay được ăn no, mặc ấm, nhà cửa khang trang, có ti vi xem, có điện cho con học bài nữa, còn gì sướng cho bằng”.

Quả thật, nhìn bản làng heo hút, nhìn những đứa trẻ lem luốt ngồi xem tivi, học bài dưới ánh đèn điện tôi mới thấy thán phục và trân trọng những người đã đưa điện đến nơi đây để góp sức cùng người dân thoát đói nghèo. Đã qua rồi cái thời đói cơm, lạt muối, đau không có thuốc, chậm tiến vì thiếu cái chữ! Những người “gánh điện lên non” thật gian khổ, nhưng nổi khổ ấy rồi cũng qua đi để lại cho những người “giữ điện” Tây Giang nhiều khó khăn mới trong quá trình quản lý, vận hành cung ứng điện.

Bây giờ đi dọc các thôn, nóc, đâu đâu cũng thấy ánh điện sáng trưng, đời sống cũng dần dần bớt khổ. Nhờ có điện, mọi hoạt động sản xuất-kinh doanh của người dân không còn bị bó gò trong cung cách làm ăn và tập tục lạc hậu kéo dài nhiều thế hệ qua. Tôi chợt nghĩ nếu có thiện chí và tích cực hơn nữa cũng chẳng có ai làm được hơn thế cho người dân ở vùng cao này./.

(Nhị Triều)